Trang chủ Giáo Dục

Jun 26, 2013

Thầy giáo nào ba lần từ chối lời mời làm quan của vua Quang Trung?

    Nov 20 2017

Ông là một trong những nhà giáo nổi tiếng nhất sử Việt, từng ba lần từ chối lời mời ra làm quan của vua Quang Trung. Phải đến lần thứ tư, ông mới đổi ý.

Thay giao nao ba lan tu choi loi moi lam quan cua vua Quang Trung? hinh anh 1

Câu 1. Thầy giáo nào từng 3 lần từ chối lời mời ra làm quan của vua Quang Trung?

  • Ngô Thì Nhậm
  • Ngô Thì Sĩ
  • Nguyễn Du
  • Nguyễn Thiếp

Nguyễn Thiếp là một trong những nhà trí thức lớn, nhà giáo tiêu biểu của nước ta giai đoạn cuối thế kỳ XVIII. Sinh thời, ông chỉ thích dạy học, vua Quang Trung mến tài đã 3 lần cho người mang thư và lễ vật đến mời nhưng ông đều từ chối. Phải đến lần thứ tư, ông mới chấp nhận.

Thay giao nao ba lan tu choi loi moi lam quan cua vua Quang Trung? hinh anh 2

Câu 2. Thầy giáo Nguyễn Thiếp được biết đến với biệt hiệu là?

  • La Giang phu tử
  • Lam Hồng dị nhân
  • Là Sơn phu tử
  • Cả 3 biệt hiệu trên

Đó là 3 trong rất nhiều biệt hiệu mà người đời vẫn thường dùng khi nói về Nguyễn Thiếp. Trong đó, La Sơn phu tử là biệt hiệu được dùng thường xuyên và quen thuộc nhất, do vua Quang Trung dùng để gọi tên ông. Học trò xứ Nghệ thường gọi ông là Lục Niên phu tử.

Thay giao nao ba lan tu choi loi moi lam quan cua vua Quang Trung? hinh anh 3

Câu 3. Nguyễn Thiếp quê ở đâu?

  • Thanh Hóa
  • Nghệ An
  • Hà Tĩnh
  • Bình Định

La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp (1723-1804) sinh ra  tại làng Mật Thôn, xã Nguyệt Áo, tổng Lai Thạch, huyện La Sơn, phủ Đức Quang (nay thuộc Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh) trong gia đình khoa bảng nổi tiếng. Năm 21 tuổi, ông đỗ thủ khoa trong kỳ thi Hương ở Nghệ An.

Thay giao nao ba lan tu choi loi moi lam quan cua vua Quang Trung? hinh anh 4

Câu 4. Thầy giáo Nguyễn Thiếp đồng ý ra giúp vua Quang Trung năm nào?

  • 1786
  • 1787
  • 1788
  • 1789

Sau 3 lần từ chối lời mời của Nguyễn Huệ, đến tháng 6/1788, Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc lần thứ hai. Khi đến đất Nghệ An, ông đã cử Cẩn Tín hầu Nguyễn Quang Đại mang thư đến mời Nguyễn Thiếp đến hội kiến. Lần này, Nguyễn Thiếp đồng ý ra giúp vua Quang Trung.

Thay giao nao ba lan tu choi loi moi lam quan cua vua Quang Trung? hinh anh 5

Câu 5. Ngọn núi nổi tiếng nào ở Hà Tĩnh là nơi La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp từng quy ẩn?

  • Thiên Nhẫn
  • Giăng Màn
  • Ba Mụ
  • Phượng Hoàng

Sinh thời, tiếng tăm về tài đức của ông khiến triều đình phải đặc cách mời ông ra nhậm chức Huấn đạo ở huyện Đô Lương (Nghệ An) năm 1756. Sau đó, ông được cử làm tri huyện Thanh Giang (Thanh Chương, Nghệ An). Thấy triều đình mục nát, năm 1768, ông từ chức, trở về lập trại Bùi Phong dưới chân núi Thiên Nhẫn. 

Thay giao nao ba lan tu choi loi moi lam quan cua vua Quang Trung? hinh anh 6

Câu 6. Vua Quang Trung cho xây dựng công trình nào tại núi Thiên Nhẫn, nơi Nguyễn Thiếp quy ẩn?

  • Quốc Tử Giám
  • Viện Bác Cổ
  • Viện Sùng Chính
  • Cả 3 công trình trên

Để tạo điều kiện cho Nguyễn Thiếp có điều kiện cống hiến cho đất nước, vua Quang Trung cho xây dựng Viện Sùng Chính (Sùng Chính thư viện) ngay tại chân núi Thiên Nhẫn. Tại đây, Nguyễn Thiếp đã giúp vua Quang Trung đề ra những cải cách về văn hóa, giáo dục.

Thay giao nao ba lan tu choi loi moi lam quan cua vua Quang Trung? hinh anh 7

Câu 7. Ngoài những cải cách về văn hóa, giáo dục, Nguyễn Thiếp còn giúp vua Quang Trung xây dựng công trình nào?

  • Kinh thành Phú Xuân
  • Phượng Hoàng Trung Đô
  • Thành Hoàng Đế
  • Duyệt Thị Đường

Sau khi lên ngôi hoàng đế, vua Quang Trung chọn vùng núi đất Dũng Quyết, tỉnh Nghệ An, làm nơi xây dựng kinh đô mới theo đề xuất của Nguyễn Thiếp. Sau đó, nhà vua giao cho trấn thủ Nghệ An là Nguyễn Văn Thận cùng La Sơn phu tử lo xây dựng gấp vùng núi trên thành Phượng Hoàng Trung Đô.

Thay giao nao ba lan tu choi loi moi lam quan cua vua Quang Trung? hinh anh 8

Câu 8. Đâu là tác phẩm văn học có giá trị mà Nguyễn Thiếp để lại cho đời sau?

  • Lạp Phong văn cảo
  • Hạnh Am thi cảo
  • La Sơn thi tập
  • Cả 3 tác phẩm trên

Ngày 25 tháng chạp năm Quý Hợi (1804), Nguyễn Thiếp qua đời, thọ 81 tuổi. Ông để lại ba bộ sách thơ văn rất có giá trị gồm: Lạp Phong văn cảo, Hạnh Am thi cảo và La Sơn thi tập. Ngoài ra, nhiều bài thơ Nôm của ông còn được truyền tụng đến này nay.